Thời kỳ quá độ kinh tế thị trường
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội on Tháng Năm 24, 2012
Chúng ta đang ở trong thời kỳ quá độ chuyển sang kinh tế thị trường. Giống như mọi quá trình quá độ, quá độ kinh tế thị trường cũng bao gồm các tiến trình vi phân với đòi hỏi xử lý sự việc đặc biệt tỉ mỉ. Các qui luật của quá trình xác lập không thể áp dụng trong thời kỳ này, bằng không hệ quả đương nhiên là sai lầm và nghịch lý. Đặc điểm của thời kỳ quá độ là phi tuyến, cấp tập trong một thời gian ngắn. Thiếu một trong những yếu tố này, thời kỳ quá độ sẽ biến tướng, phản tác dụng và rối loạn. Sự suy nghĩ giản đơn sẽ phá sản các dự kiến. Sự rập khuôn máy móc sẽ sai lệch đầu vào, trong hàm phi tuyến, sai số đầu ra là khủng khiếp. Thiếu cấp tập hay đầu tư nhỏ giọt, cường độ không đủ để chuyển trạng thái, giới hạn dưới bị phá vỡ, dẫn tới tình trạng dồn toa, thời cơ biến mất, đầu tư chưa kịp thấm đất đã bốc hơi. Thời kỳ quá độ kéo dài, nền kinh tế sẽ suy kiệt. Thiếu tất cả các yếu tố trên, mọi vấn đề chỉ là ngụy biện cho các động tác giật gấu vá vai, tranh thủ, đánh đổi và phó mặc, trong khi túi Thạch Sanh sắp đầy, các linh hồn đầu tư lặng lẽ ra đi, chỉ còn các dự án ô nhiễm nằm lại nước sở tại, dĩ nhiên, tiếp tục trường tồn.
Kinh tế thị trường tuân thủ qui luật tự nhiên, nhưng không phải là qui luật tự nhiên hoang dã, mà là qui luật tự nhiên đã được rèn giũa bởi lịch sử và đóng góp trí tuệ của loài người. Các luật cạnh tranh, chống độc quyền đã được hòa quyện như một thành phần không thể thiếu của kinh tế thị trường đương đại, nhằm đảm bảo bong bóng phải được xì hơi, lũng đoạn phải được kiềm chế để sàng lọc lấy những sân chơi lành mạnh, tránh hiệu ứng chạy xô mạn thuyền(1). Ngoài ra, nền kinh tế còn phải có đủ thế vững để có thể vượt qua những đợt sóng khủng hoảng thời tiết(2).
Một khảo sát mới đây cho thấy người Việt yêu kinh tế thị trường nhưng lại vẫn muốn nhà nước can thiệp vào giá cả. Điều này nghe qua có vẻ nghịch lý, những nếu xem xét vi mô thì thấy nó có lý do rất thỏa đáng. Người Việt yêu kinh tế thị trường là hiển nhiên, vì cạnh tranh mới tạo ra động lực phát triển. Họ lại cần nhà nước can thiệp giá cả, vì:
- DNNN là thuộc về sở hữu nhà nước(hay sở hữu toàn dân?), người dân cũng là chủ nhân. Nếu là DNNN độc quyền thì thực chất nó là một dịch vụ công hơn là vai trò một doanh nghiệp, và nó không nằm trong thị trường. Còn nếu coi nó là một doanh nghiệp thì người dân- chủ nhân của nó phải được đối xử với giá nội bộ với quyền ưu tiên kiểu như cổ đông ưu đãi.
- DNNN được ưu tiên bằng chính sách thì doanh nghiệp tư nhân phải được ưu tiên bằng tham nhũng nếu muốn tồn tại, đây cũng là hình thức gián tiếp mong nhà nước tác động vào thị trường.
- Nền kinh tế sa sút, người dân sống khó khăn, họ không chịu nổi các chi phí ngày càng tăng mà họ cho là do tác động của thị trường nên muốn nhà nước can thiệp giảm bớt. Nhưng nhà nước không thể hãm lại cái đà tăng của những yếu tố do chính mình tạo ra, thành thử cuối cùng thì giá cả vẫn từng bước leo lên như ruộng bậc thang trên miền núi(3).
Nền kinh tế thị trường giáo dục cho con người biết trân trọng cuộc sống thực tế, rũ bỏ giả dối phù du để cùng nhau xây dựng một xã hội phồn thịnh, sâu rễ bền gốc, đời đời nối nghiệp. Than ôi, điều tốt đẹp là vậy lại dễ bị dị ứng với tham ô, trục lợi, kéo theo lối sống kim tiền, suy đồi đạo đức. Chúng ta gọi đây là mặt trái của kinh tế thị trường. Liệu có phải vậy không. Có phải kinh tế thị trường là nguyên nhân dẫn đến những điều xấu xa kia, tham tiền tham lợi bất chấp mọi giá?
Hoàn toàn không phải như vậy!
Nền kinh tế thị trường thúc đẩy phát triển, tạo ra công bằng xã hội đích thực, tự nhiên như thiên nhiên. Còn có gì đẹp hơn vẻ đẹp thiên nhiên trong trời đất? Vấn đề là ở chỗ nếu ví kinh tế thị trường như con người trong quá trình tiến hóa thì thói tham ô, trục lợi như một yếu tố gây bệnh. Con người càng văn minh thì càng dễ nhạy cảm với môi trường, càng đòi hỏi môi trường trong sạch hơn, và sẽ bị ốm bệnh ngay thậm chí đột tử nếu ăn sống nuốt tươi như thời ăn lông ở lỗ. Như vậy sự văn minh không phải là nguyên nhân làm cho con người bị ốm chết, mà con người bị ốm chết là do đã sống trong thời đại văn minh mà lại ăn bẩn như thời ăn lông ở lỗ.
Nền kinh tế thị trường sẽ suy thoái thậm chí sập hoàn toàn nếu cứ tham nhũng tràn lan như hiện nay.
Tham nhũng gây ra lũng đoạn, lũng đoạn kinh tế và lũng đoạn chính sách, làm chao đảo nền kinh tế. Càng lũng đoạn càng chao đảo, càng chao đảo càng suy kiệt, càng suy kiệt càng rối ren, càng rối ren càng lũng đoạn, càng lũng đoạn càng chao đảo… cái vòng tuần hoàn ấy cứ thế mà tàn phá như sạt lở sóng thần, nền kinh tế rồi sẽ chết sớm như người bình thường mà cái gì cũng bỏ vào mồm như người điên. Nền kinh tế chết thì chẳng còn gì. Giấy chứng nhận sử dụng này nọ lúc ấy có khác gì giấy lộn, các tài khoản nọ kia chỉ còn là những chữ số điện tử vô tri…
Vẫn nói chống kẻ tội đồ tham nhũng là nhiệm vụ hàng đầu. Nhưng muốn chống được tham nhũng thì chỉ có cách duy nhất là độc lập giám sát bởi cơ quan tư pháp; cơ quan lập pháp phải có quyền lực thực sự tối cao, chính quyền và người dân theo đó mà tuân thủ pháp luật, ấy mới gọi là biết sử dụng công cụ thể chế để quản lý đất nước.
(1)Các tai nạn thuyền đò hay xảy ra khi mọi người hốt hoảng chạy xô về một bên mạn, khiến chiếc thuyền bị lật úp.
(2)Một tàu thuyền khách phải đảm bảo an toàn ngay cả khi toàn bộ hành khách chạy dồn về một bên mạn trong những điều kiện thời tiết nhất định. Một tàu thuyền chở hàng hạt rời phải đảm bảo góc nghiêng ngang của tàu do hàng hạt dịch chuyển không được vượt quá 12°
(3)Giá cả không tăng chỉ do sức mua giảm sút- điều này còn tồi tệ hơn.
Những khuyết điểm của học thuyết Mác- phần 3
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội on Tháng Tư 12, 2012
Hai bài trước nói về những khuyết điểm của học thuyết Mác. Học thuyết là kim chỉ nam cho đường lối phát triển đất nước theo con đường CNXH, đã được chỉ ra là mắc phải khiếm khuyết khiến cho con đường CNXH trở nên mờ mịt. Hai bài đã trình bày các hệ lụy mà học thuyết gây ra theo lối diễn tả hiện thực phê phán. Bài này đi vào mâu thuẫn cơ bản của nguyên lý nội tại.
Học thuyết tìm tòi các qui luật phát triển, sáng tỏ vấn đề. Điều này chống lại các luận điểm lòe bịp hay mê tín dị đoan, giải thoát con người khỏi nỗi sự hãi về các thế lực thần bí, vô hình. Như vậy xương sống của học thuyết là tính thực tế.
Oái ăm thay, học thuyết càng có vẻ thực tế bao nhiêu thì đến khi ứng dụng nó càng phi thực tế bấy nhiêu. Điểm chốt ở đây là đối tượng chịu tác động ứng dụng của học thuyết không phải là vài ba người có bộ óc hàn lâm trong phòng thí nghiệm, mà là toàn thể xã hội với đầy đủ các thành phần trong một thế giới biến đổi không ngừng. Trong trường hợp này, lý thuyết càng chi tiết, sai lầm càng lớn, bởi chi tiết xã hội không phải là đối tượng của khoa học, trong khi các nhà nghiên cứu chưa có thực tiễn về mọi ngóc ngách của đời sống xã hội. Thế giới luôn vận động, cân bằng là tạm thời, mất cân bằng là vĩnh viễn. Việc cố gắng nắm bắt hết thảy, cũng như cố chớp lấy trạng thái cân bằng là vô cùng khó khăn, nếu được cũng chỉ là tạm thời trong khi chân lý đã thuộc về quá khứ. Thêm nữa, quán tính suy luận luôn có xu hướng đẩy vấn đề vượt quá dung sai, mà khả năng có thể dừng lại trong biên độ cho phép của chân lý là vượt quá kiến thức trung bình của xã hội. Cho thấy, tính phi thực tế thể hiện rất rõ ràng.
Thế giới vạn vật là hệ thống mở, nó không chấp nhận sự cài đặt sẵn như mảng logic cố định (Unprogramable logic array). Thời đại này là thời đại của thông tin. Khuynh hướng nghiên cứu qui luật hóa không còn hữu dụng, hay nói chính xác hơn nó đã bão hòa. Các phương pháp tìm kiếm thông tin cổ điển như tìm kiếm theo chiều rộng, tìm kiếm theo chiều sâu, tìm kiếm sâu dần mức k, kể cả tìm kiếm kết hợp định hướng kinh nghiệm Heuristics đều không giải quyết được các bài toán lớn. Khi số cấu hình bài toán lên tới con số hàng tỉ thì giải pháp khả thi lại là nhờ cậy đến các vấn đề tự nhiên như quy lạp, mạng neuron, giải thuật di truyền(*). Các phương pháp cổ điển, trong khi, tìm kiếm dựa trên tri thức đã biết (là các chân lý đã thuộc về quá khứ) sẽ chỉ (nếu có- đối với các bài toán có tính giải được) cho ra kết quả với cấp độ tri thức thấp hơn. Ngược lại, các phương pháp mới là các phương pháp tổng hợp tri thức, đem lại tri thức với cấp độ cao hơn tri thức nguồn, trong mọi trường hợp luôn cho kết quả tối ưu. Vấn đề xã hội là vấn đề rất lớn và phức tạp. Sự áp đặt chủ quan dù tích cực hay tiêu cực không phải là hướng đi của thời đại, không hiệu quả, trong một số trường hợp là không giải được. Chính quá trình sàng lọc tự nhiên là cách lựa chọn cho giải pháp giải vấn đề đạt kết quả tối ưu.
Như vậy học thuyết Mác mâu thuẫn giữa ước muốn và tính ứng dụng của nó, dẫn tới con đường CNXH bất khả thi. Mặc dù CNXH thực tế chẳng còn nguyên vẹn, nhưng những vương vấn nửa vời chỉ thêm nuôi dưỡng tham ô, tạo ra bất ổn xã hội, hao tiền tốn của, đình đốn sản xuất, làm cho đất nước càng thêm nguy khốn trước sóng gió của hội nhập toàn cầu.
(*)Thuật giải di truyền là một thuật giải trong đó duy trì n cá thể trong một quần thể. Sau khi quần thể sản sinh ra thế hệ mới, kích thước quần thể tăng lên, độ thích nghi được đánh giá toàn bộ các cá thể, loại bỏ các cá thể có độ thích nghi thấp để giữ lại chỉ n cá thể thích nghi cao nhất (có thể bao gồm các cá thể ở mọi thế hệ). Quần thể lại tiếp tục sản sinh…cho đến khi độ thích nghi thỏa mãn yêu cầu. Chu kỳ sống của mỗi thế hệ càng ngắn, tức là quần thể sản sinh càng nhanh thì tốc độ tìm kiếm càng đạt hiệu quả.
Những khuyết điểm của học thuyết Mác- phần 2
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội on Tháng Ba 15, 2012
Vật chất và ý thức hay vật chất và tinh thần?
Trong vũ trụ bao la, những gì chúng ta biết là vô cùng nhỏ bé so với những gì chúng ta chưa biết. Nói vật chất sinh ra ý thức là một phát biểu mơ hồ. Bởi nếu thế giới vật chất đề cập ở đây là toàn thể vũ trụ vô tận, ở đó chứa đựng muôn vàn những điều chúng ta chưa biết, điều chưa biết không thể nằm trong một khẳng định. Mặt khác, thế giới vật chất mà con người cảm nhận được là vô cùng nhỏ bé, ngoài ra không có điều gì có thể kết luận. Chính cái không giải thích được ấy là nền tảng của cảm xúc lãng mạn, nảy nở ước mơ, đâm chồi sáng tạo, vượt qua không gian và thời gian để làm nên điều kỳ diệu.
Sao không coi trái đất cũng là một sinh thể biết cảm thụ. Đã như mọi dạng vật chất đều có thuộc tính phản ánh, sao còn bỏ ngỏ phần còn lại của vũ trụ bất tận mà chúng ta vẫn gọi là “ông trời”. Sao sóng thần bỗng nhiên đổ xuống Fukushima. Phải chăng ông trời muốn thử thách tinh thần của người Nhật bản, muốn xem khả năng làm chủ thiên nhiên ở một nước công nghiệp tiên tiến đến đâu. Can thiệp vào tự nhiên một thì tự nhiên sẽ trả đũa lại ta mười lần.
Chủ nghĩa duy vật biện chứng(CNDVBC) phát biểu:”Chỉ có một thế giới duy nhất và thống nhất là thế giới vật chất “. Sau đó lại nói ý thức độc lập với vật chất và không mang tính vật chất. Đây là mâu thuẫn trong lý luận. Ý thức là kết quả của quá trình tiến hoá của thuộc tính phản ánh có ở mọi dạng vật chất, nhưng chúng ta lại dứt khoát không cho động vật là có ý thức. Lão già 75 tuổi hiếp dâm bé gái 6 tuổi, thượng tá quân đội hiếp dâm bé gái 5 tuổi. Liệu ý thức của họ có bằng con vật? Nếu ý thức động vật là số không thì ý thức những người này là số âm. Bởi theo nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội thì họ đều đủ điều kiện để có ý thức. Như vậy theo CNDVBC thì có ý thức âm?
Chính vì suy nghĩ rằng con vật không có ý thức mà chúng ta không coi chúng là một phần của cuộc sống, sẵn sàng làm thịt bất cứ con vật nào. Ở Nagoya bạn có thể nhìn thấy cá ở ven sông bơi lội dưới làn nước trong suốt. Ở Wellington người ta cho phép câu cá nhưng chỉ đối với những con cá to, còn những con cá nhỏ mới lớn sẽ được yêu cầu thả lại xuống sông để bảo tồn thiên nhiên. Ở Việt Nam thì khó mà câu được một con cá vì chúng đã bị bắt hết cả rồi. Ở Colombo chim bồ câu bay đậu ngập bãi trống, có đến hàng vạn con, người dân ở đây không bắt chúng nên chúng đi lại tự nhiên ngay trước mặt mọi người. Bangkok cũng vậy, dù người dân Bangkok cũng rất bình dân nhưng chim bồ cầu vẫn thoải mái bay đầy công viên. Như Việt Nam mà hở ra con nào thì đảm bảo chỉ 10 phút sau nó đã nằm trong nồi cháo. Các nước rất quí con vật. Người Indonesia không ăn thịt lợn, Ấn Độ cũng thế. Vậy ý thức đó ở đâu ra, hiển nhiên là từ nét văn hóa truyền thống lâu đời hàng nghìn năm, chứ đâu phải chỉ đơn giản từ hiện thực khách quan nhất thời mà có được. Cách hiểu thô sơ về ý thức như vậy đã dẫn đến các cuộc cách mạng văn hóa phá hủy di tích, chùa chiền, nã phát súng vào lịch sử. Đến khi làm kinh tế thì không kiểm soát nổi đành buông xuôi, rồi tất cả cùng nhốn nháo trong một xã hội hoang dã lộn tùng phèo, vốn liếng văn hóa phiếm định từ suy nghĩ viển vông lại trôi theo dòng nước. Cả xã hội đua nhau chụp giật. Thói gian lận được dịp lên ngôi. Điều chua xót thúc đẩy một quan sát thực tế là: không có một dân tộc nào mà thói gian lận lại hoành hành như ở dân tộc Việt Nam hiện nay. Người dân các nước xung quanh đều sống ngay thẳng từ trong tiềm thức. Chẳng cần nói đến Nhật bản chỉ cần nhìn Thailand bạn cũng có thể thấy một chiếc xe đạp để bên đường mà không cần người trông. Chúng ta không thống nhất làm được việc gì, vì luôn cản trở lẫn nhau, nên chỉ có thể kiếm lợi cá nhân. Nhưng lợi lộc cá nhân ở Việt Nam có chiều hướng làm tổn hại toàn xã hội bao gồm cả thủ phạm. Kẻ tham nhũng thì ăn tiền thuế của dân. Người nông dân khó sống đành đưa thuốc tăng trọng có độc vào thực phẩm. Cả xã hội là nạn nhân của chính mình. Chỉ một số ít người ở nước ta mới có khả năng nhập thịt bò từ Mỹ, gạo từ Singapore, hoặc tự trồng rau sạch.
Vì ý thức đến từ hiện thực khách quan, tất nhiên sẽ có nên chẳng cần phải suy nghĩ, trăn trở, đâu sẽ có đó. Điều này sinh ra tính ỷ lại, đùn đẩy trách nhiệm. Dưới đẩy lên trên, trên đùn xuống dưới và công việc dừng chân tại chỗ.
Tất cả đều thuộc về thế giới vật chất. Bộ não người là cơ quan vật chất của ý thức, con người chết đi là hết, ý thức không còn nữa. Vậy đố ai tìm được ở Việt Nam có gia đình nào lại không cúng 49 ngày để siêu thoát linh hồn cho người đã khuất. Còn rất nhiều hiện tượng kỳ lạ của thế giới âm mà chưa giải thích được. Đây là thực tế không thể phủ nhận. Chúng ta thường chúc nhau may mắn. Sự may mắn ấy không thể đến từ thế giới vật chất với lối suy diễn tất định, mà thuộc về thế giới tâm linh, cũng có thể gọi là thuộc về “ý trời”. Ngay cả đối với các công trình khoa học cũng vậy. Không một phát kiến khoa học nào có thể ra đời nếu thiếu sự may mắn. Chúng ta thử chiêm nghiệm công thức sau: phát kiến khoa học= tri thức+ khổ công nghiên cứu+ may mắn. Vậy tại sao chúng ta cứ phải theo một lý thuyết không đúng với thực tế để trở nên giả tạo, dối mình, dối người, luôn luôn thụ động, lấy sự lừa bịp được người khác làm niềm vui an ủi, còn khốn khổ nào hơn.
CNDVBC phân tích cấu trúc của ý thức, rồi còn định nghĩa tình cảm. Tình cảm con người là tự nhiên và thiêng liêng, tại sao lại phải phân tích mổ xẻ, nếu không phải là muốn dùng ý chí để áp đặt lên ý thức con người?
Tư tưởng tình cảm của con người là thiêng liêng và riêng tư, và phải được tôn trọng. Có lẽ chúng ta không cần bàn đến khái niệm ý thức nữa. Thay vào đó là sự quan tâm đến đời sống tinh thần của con người. Có thể phát biểu lại:”Không có gì ngoài đời sống vật chất và đời sống tinh thần của con người”. Theo định nghĩa của CNDVBC tri thức là yếu tố cơ bản, cốt lõi của ý thức. Vậy người nông dân suốt đời lam lũ để làm ra bát cơm cho chúng ta nên không được học hành, thì có ý thức kém? Nếu quả vậy thì một anh nông dân chăm chỉ làm ăn trong một xã hội hài hòa thì sẽ đủ ăn, cuộc sống hạnh phúc và tinh thần sảng khoái, mà vẫn kém ý thức? Chu Nguyên Chương là một anh nông dân. Tri thức của một nông dân sao bỗng chốc có thể trở thành tri thức của một ông vua. Điều giải thích ở đây là tinh thần làm vua. Ông có cái nhìn toàn cục và rất bất bình trước sự chia rẽ của các cánh nghĩa quân. Tầm nhìn ấy phải xuất phát từ tinh thần mà có chứ học mãi cũng không thể lĩnh hội được. Khi tập hợp được hàng vạn binh mã ông đã trao trả cho cha nuôi, chỉ cùng mấy anh em độc lập gây dựng lại từ đầu, rất có đạo lý. Sau khi đuổi hết quân Nguyên, Chu Nguyên Chương lập nên triều Minh. Ông rất coi trọng kỷ cương phép nước, đã từng trảm một loạt các nghĩa tử của mình mắc tội quấy nhiễu nhân dân. Trước sức ép phải gây dựng triều đại, tinh thần của ông mệt mỏi dần. Ông không xây dựng kịp thể chế, một công cụ đắc lực giúp cho việc điều hành đất nước được xuôi chèo mát mái, cuối cùng ông đã trở nên tàn bạo. Thế thì ý thức con người là mục tiêu cấn nhắm tới hay việc đảm bảo đời sống tinh thần là quan trọng hơn? Ý thức nằm nơi bộ não kèm theo sự giả dối của cõi tục ô nhiễm thị phi, còn tinh thần xuất phát từ trái tim nhiệt huyết, chân thành và lãng mạn. Một phật tử thiền định đạt tới cõi niết bàn hoàn toàn vô thức sẽ trở thành chân tu tuyệt đỉnh. Một người chiến sỹ phải có tinh thần khỏi cần tính toán thì mới có thể chiến đấu quả cảm với quân thù, coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Tinh thần là điểm chung trước nhất để hội ngộ quần hùng. Tinh thần là nền tảng của sự sáng tạo, đặc biệt là sáng tạo nghệ thuật, trong đó điện ảnh là đại diện hữu hiệu nhất của nền văn hóa trong lòng quần chúng. Muốn cải thiện tinh thần thì phải tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do báo chí và tôn trọng quyền riêng tư như những điều kiện ắt có. Từ đó mới có thể xuất hiện các nhân tài phục vụ xây dựng đất nước. Vì quyền riêng tư và quyền tự do nói trên là xuất phát từ tinh thần chân thành nên đương nhiên sẽ không đụng chạm đến các qui tắc chung của xã hội, nếu không luật pháp cần phải sửa đổi cho phù hợp.
Những khuyết điểm của học thuyết Mác
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội on Tháng Ba 5, 2012
Mác là nhà triết học đại tài, nhưng sản vật mà ông để lại cho nhân loại gây hệ lụy chẳng mấy tốt đẹp. Thực tiễn xã hội Việt Nam cũng khiến cho người ta phải xem xét, có nhiều chỗ không ổn trong học thuyết của ông như sau:
-Học thuyết không khuyến cáo ở trình độ xã hội nào thì học thuyết có thể áp dụng. Mặc dù trong triết học duy vật lịch sử Mác đã nêu rằng phải có trình độ lực lượng sản xuất cao thì mới có quan hệ sản xuất tốt, từ đó mới tiến tới kiến trúc thượng tầng đỉnh cao. Nhưng điều này có thể vẫn là khó hiểu đối với các tín đồ của ông. May thay ở Việt Nam có Hồ chủ tịch đã hiểu được. Sau cái tên Đảng Cộng Sản Việt Nam để nhờ cậy phong trào Cộng sản quốc tế về vấn đề giải phóng dân tộc, Đảng đổi thành Đảng Lao Động Việt Nam(sau Đảng cộng sản Đông dương). Người thông minh và sáng suốt như Cụ chẳng khi nào lại đưa cả nước mình đi theo một thứ trừu tượng, mơ hồ, phụ thuộc, bỏ qua đặc thù dân tộc. Như vậy Đảng đã từng thay đổi vai trò cho phù hợp sao cho có lợi cho đất nước. Mặc dù Cụ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc thắng lợi, mọi người vẫn nhớ Cụ là chủ tịch nước: chủ tịch Hồ Chí Minh (chí hướng cụ thể rõ ràng). Cụ chỉ mong muốn rằng dân tộc Việt Nam sẽ bước lên đài vinh quang để sánh vai được với các cường quốc năm châu.
-Mắc phải ngộ nhận: học thuyết cho rằng công hữu tư liệu sản xuất thì sẽ chung tay làm, xây cho nhà cao cao mãi. Còn sở hữu tư nhân thì sẽ vì lợi nhuận mà cạnh tranh nhau. Ngộ nhận về sở hữu công cộng ở chỗ đã giả thiết rằng nguyên vật liệu, nhân công, thiết kế là có sẵn. Nhưng việc chung chẳng ai chịu làm, gạch ngói sắt thép bản vẽ không có thì làm sao xây được nhà. Trong khi cạnh tranh tư bản thì chắc chắn sẽ đem lại một ngôi nhà do bên có năng lực hơn làm ra.
-Trong triết học duy vật biện chứng, mọi sự vật hiện tượng đều vận động theo qui luật khách quan. Một trong 6 cặp phạm trù triết học là TẤT NHIÊN và NGẪU NHIÊN. NGẪU NHIÊN thì có thể thế này, có thể thế kia. Vậy khi đó vật chất quyết định hay ý thức quyết định. Hiện nay ở Việt Nam đạo đức suy đồi, tham nhũng sâu rộng, bán dâm đủ món, thày trò bại hoại, cha con loạn luân, động một tý thì giết người như giết con gà con vịt, xe lăn xuống vực người chết như rạ, chính quyền sai luật, dân oan chống lại công an, giặc bành trướng đánh đuổi ngư dân, người người không yên, nhà nhà cúng bái, còn chị Bích Hằng xem mộ hay lên báo đảng, thày bói tìm đường về Hà nội. Một xã hội đầy rủi ro như vậy thì biện chứng khách quan, cái TẤT NHIÊN kia còn đâu nữa hử?
Bangkok
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội on Tháng Một 16, 2012
Tôi đang ở Dolphin 11-16, Bangkok. Năm hết tết đến rồi, tôi muốn nói rõ rằng tôi là thuyền trưởng của một con tàu, chịu trách nhiệm về sinh mạng và đời sống của 20 thuyền viên trên vương quốc tí hon của mình. Đời thủy thủ như cánh chim phiêu bạt, may mà đậu được vào đất liền thì mới có cơ hội nhắn nhủ đôi điều: rằng rất nhớ trang này cũng như tất cả mọi người.
Xin gửi lời chào trân trọng.
Một sự nhầm lẫn trong Luật bấy lâu nay
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội, Khoa học- kỹ thuật on Tháng Chín 25, 2011
Trong cuốn sách luật “Qui tắc phòng ngừa đâm va tàu thuyền trên biển” (COLREG-72), phiên bản song ngữ Anh- Việt do nhà xuất bản Giao thông vận tải phát hành 2008, tại điều 29, khoản a, điểm i,ii nêu:
Điều 29. Tàu thuyền hoa tiêu
a) Tàu thuyền hoa tiêu đang làm nhiệm vụ hoa tiêu phải trưng:
i. Trên đỉnh hay gần đỉnh cột buồm hai đèn chiếu sáng khắp bốn phía, đặt theo chiều thẳng đứng, đèn trên màu trắng, đèn dưới màu đỏ;
ii. Khi đang hành trình, ngoài những đèn nói trên còn phải trưng các đèn mạn và đèn lái;
Rule 29. Pilot vessels
a) A vessel engaged on pilotage duty shall exhibit:
i. At or near the masthead, two all- round lights in a vertical line, the upper being white and the lower red;
ii. When underway, in addition, sidelights and a sternlight;
Rõ ràng điều này qui định cách trưng đèn của tàu thuyền hoa tiêu, hiện nay là các xuồng nhỏ để đưa đón sĩ quan hoa tiêu ra các tàu mẹ để làm nhiệm vụ hoa tiêu. Điều này chỉ áp dụng cho tàu hoa tiêu, không áp dụng cho các tàu mẹ có hoa tiêu đang làm nhiệm vụ vì tàu mẹ chẳng hạn như tàu biển đang hành trình còn phải trưng thêm các đèn cột.
Nhưng hình minh họa của cuốn sách này (cũng như tất cả các tài liệu hàng hải của Việt Nam từ trước tới nay) như sau:
Hình này trình bày tàu mẹ đang trưng đèn của tàu hoa tiêu, bên cạnh là một chiếc xuồng đưa đón hoa tiêu. Để cho khớp với văn bản luật, người ta còn vẽ chữ PILOT (hoa tiêu) bên mạn tàu. Điều này gây ra hiểu nhầm cho nhận thức của các thuyền trưởng, sĩ quan hàng hải từ trước tới nay trong thực tiễn sản xuất. Trên thực tế, việc bật đèn trắng trên, đỏ dưới trên các tàu biển có hoa tiêu làm nhiệm vụ gây ra tín hiệu lạ, làm rối giao thông luồng lạch. Thật tiếc, các nhà hàng hải của ta đến nay vẫn mắc lỗi này. Đó là một thói quen khó sửa.
Bao Công xử án- phần 2
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội, Văn hóa- tư tưởng on Tháng Chín 25, 2011
Bài trước đã nêu những cảm nhận pháp luật về bộ phim “Bao Công xử án”. Liên tưởng trong cuộc sống, việc áp dụng pháp luật chặt hay lỏng, thì đấy là sự lựa chọn. Nếu áp dụng pháp luật chặt́ mà khiến cho ai cũng trở thành tội phạm thì hệ thống pháp luật ấy phải được thay đổi tận gốc rễ, hiến pháp phải được sửa đổi thực chất căn bản. Thi hành nghiêm pháp luật là khó, vì nhận ra chân giá trị của vấn đề không phải dễ dàng. Chân lý là duy nhất, nhưng những thứ na ná như chân lý thì vô vàn. Những thứ na ná ấy mới thậm nguy hiểm, nó giống như sự ngụy trang thành người của yêu quái, giống người đến nỗi 36 phép của Bát Giới không thể nhận ra, phải 72 phép thần thông của Ngộ Không mới nhận ra nổi. Thiếu cẩn trọng sẽ dẫn tới án oan hoặc bỏ lọt tội phạm. Bài toán khó không phải lúc nào cũng giải được, và tốt nhất là không nên tạo ra bài toán khó để giải. Thể chế nhằm diệt tội phạm nhưng cũng đẻ ra tội phạm, nếu nó không phù hợp thời đại. Thời nhà Tần ở Trung Quốc, Thương Ưởng áp dụng Biến pháp, trảm một loạt các nhà quí tộc, vì vậy phát triển được nhà Tần lớn mạnh với vai trò của một đế quốc. Nhưng hình như xã hội Trung Quốc bấy giờ chưa tiêu hóa nổi một thể chế cao cấp ấy. Đến đời vua sau, Thương Ưởng bị các nhà quí tộc hành quyết tứ mã phanh thây.
Ngược lại, cứ dung dưỡng pháp luật xôi thịt, buông lơi như thế thì có sao đâu. Chỉ có điều, có bệnh mà không chịu uống thuốc đắng, có ung nhọt mà sợ đau không chịu cắt bỏ, thì độc tố sẽ lan nhiễm toàn não trạng. Trong thể chế độc đảng, bỏ qua các phương diện khác, chỉ xét khía cạnh chống tham nhũng, một căn bệnh nội xâm, thì độc đảng lại là một ưu điểm. Bởi vì, Đảng có thể can thiệp trực tiếp vào hệ thống đa tầng của bộ máy công quyền. Diễn biến ra sao, hồi sau sẽ rõ.
Bao Công xử án
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội on Tháng Chín 23, 2011
Ai cũng biêt rằng pháp luật là rường cột của nước nhà. Hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội sao cho các hoạt động xã hội diễn ra hài hòa. Hoạt động toàn xã hội có hiệu quả mới đảm bảo đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh. Dung túng cho hành vi phạm pháp hoặc làm méo mó pháp luật sẽ gây ra mục ruỗng rường cột, phá vỡ thể chế. Mặc dù mọi vấn đề đều có dung sai, pháp luật cũng không loại trừ, nhưng dung sai pháp luật là do hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, chứ không phải do buông lỏng luật pháp. Luật pháp của một quốc gia có phạm vi áp dụng trên cả nước, một phạm vi rộng như vậy không tránh khỏi xảy ra một hai trường hợp đơn lẻ luật pháp chưa thực sự bám sát vào cuộc sống. Nhưng nếu vì vậy mà tạo ra ngoại lệ tại nơi nàỵ, sẽ khiến cho tiền lệ phát sinh phản ứng dây chuyền khắp mọi nơi. Qui định pháp luật là qui định chung, mọi tổ chức, cá nhân đều nằm trong khuôn khổ của pháp luật, nó phải vượt lên trên mọi quan hệ họ hàng, bè nhóm, đảng phái. Cho nên pháp luật vô tình là vậy. Dung sai pháp luật kể trên đã bao hàm cả bào chữa của luật sư, vì luật sư không thể lý luận ra ngoài luật pháp, anh ta chỉ có thể chỉ ra những điều luật trong hệ thống xung đột pháp luật hoặc chưa cụ thể sao cho tuyên án không phải là một quyết định vội vàng. Quan tòa thì không cần giỏi, cái cần ở đây là thái độ nghiêm cẩn, thực hiện đúng trình tự, đối chiếu xem các vấn đề nêu ra có đúng luật hay không. Theo thời gian, cuộc sống thay đổi, dung sai pháp luật trở nên không còn thích hợp, cơ quan lập pháp phải tiến hành sửa đổi, bổ sung điều luật hoặc soạn ra các bộ luật mới.
Bộ phim “Bao Công xử án” do Đài Loan sản xuất, ứng vào thời nhà Tống ở Trung quốc. Lúc bấy giờ quân đội nhà Tống yếu kém so với sự đe dọa của quân Liêu. Điều mà nhà Tống có thể làm được là giữ vững thể chế. Tình hình Đài Loan cũng tương tự, từ khi Đại lục thuộc về Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, Đài Loan đã phải có kế hoạch chống lại sự hợp nhất hòn đảo này vào Trung Quốc. Quân đội Đài Loan hiển nhiên là yếu, bù lại Đài Loan phát triển thể chế, tăng cường sản xuất, nghiên cứu công nghệ, phát triển giao thương đem lại cuộc sống đầy đủ cho nhân dân. Rất may cho Đài Loan, thế giới ngày nay đã văn minh hơn. Cả thể giới chống lại phát xít, khủng bố, độc tài, bành trướng. Đài Loan còn có đồng minh quân sự số một là Mỹ. Tuy nhiên, Mỹ hay cả thế giới sẽ chẳng giúp được gì cho Đài Loan nếu Đài Loan không chứng tỏ có bản lĩnh của một nước độc lập, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Chừng nào không có người dân Đài Loan nào muốn vượt biên về Đại lục, thì Trung Quốc còn chưa thực hiện được kế hoạch thống nhất của mình.
Chúng ta nhớ lại hiệp định Paris 73. Nếu sau các đợt Mỹ ném bom mà Bắc Việt Nam không chống đỡ nổi thì sẽ chẳng có hiệp định nào cả, và sẽ không dành được độc lập. Cũng như vậy, nếu chính quyền Sài gòn không phải là một chính quyền tay sai, vừa thiếu thể chế vừa thiếu nhân sự, thì chưa chắc đã có Việt Nam thống nhất ngày nay.
Con đường đến trường
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội on Tháng Chín 23, 2011
Nguồn: youtube
Chuẩn quốc gia, chuẩn quốc tế, chuẩn quốc tế của quốc gia
Posted by phamtyn in Chính trị- xã hội, Khoa học- kỹ thuật on Tháng Chín 23, 2011
Chúng ta thường nói hòa nhập quốc tế thì phải theo chuẩn quốc tế. Đúng như vậy. Một sản phẩm thủy sản đạt tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) thì chưa thể xuất khẩu nếu nó chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế (ISO). Rượu châu Âu thì ngon hơn rượu Nhật, rượu Nhật ngon hơn rượu Đông Nam Á, và rượu Đông Nam Á bảo đảm hơn rượu Việt Nam. Tuy nhiên việc tách bạch giữa các chuẩn quốc gia, chuẩn khu vực, chuẩn quốc tế như vậy chỉ áp dụng đối với các lĩnh vực mà đối tượng hình thành trong phạm vi nhỏ hẹp có tính độc lập chẳng hạn như một sản phẩm.
Đối với các vấn đề rộng lớn mang tính xã hội như công ước quốc tế, luật pháp quốc tế…, việc hình thành tiêu chuẩn của các qui định không đơn thuần chỉ là tuân theo mà nó đòi hỏi các quốc gia phải đóng góp ý kiến, đề xuất, cung cấp dữ liệu, triển khai trù bị để thực hiện. Trong các bộ luật của Việt Nam mà liên quan đến luật quốc tế, thường xuất hiện qui định như thế này: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có qui định khác với qui định của bộ luật này thì áp dụng qui định của điều ước quốc tế đó“. Điều này không sai nhưng thiếu chặt chẽ và vô hình trung chúng ta tự trói buộc mình, trong khi luật quốc tế luôn có tính mở. Tôi xin lấy ví dụ, trong qui tắc quốc tế về phòng ngừa đâm va tàu thuyền trên biển 1972 (COLREG-72) tại điều 1, khoản b nêu: “Không một điều nào trong Qui tắc này cản trở việc thi hành những qui tắc đặc biệt do chính quyền địa phương qui định đối với vùng neo tàu, bến cảng, sông hồ hay các vùng nước nối liền với biển cả mà tàu biển có thể qua lại. Tuy nhiên, những qui tắc đặc biệt nói trên càng phù hợp với qui tắc này càng tốt.” Rõ ràng luật quốc tế cho phép các qui định của quốc gia khác với qui định quốc tế, tất nhiên, không thể trái qui định quốc tế. “Trái” và “khác” là không giống nhau.
Hiện nay, trên các hải đồ Anh (B.A chart- loại hải đồ dùng phổ biến trên thế giới) khu vực biển Đông, người ta vẫn ghi là biển Nam Trung Quốc (S.C.S). Việt Nam nên cùng với các nước Đông Nam Á kiến nghị với IMO cập nhật thành biển Đông Nam Á (S.E.A) (hải đồ được cập nhật hàng tuần). Mặc dù đây chỉ là tên gọi của một vùng biển quốc tế của khu vực, nhưng việc làm này có lợi về mặt pháp lý trong bảo vệ chủ quyền. Chỉ có động thái lo xa như vậy mới khiến Trung Quốc phải tôn trọng.
Về vấn đề kí tự Unicode tiếng Việt cũng vậy. Rõ ràng Unicode kèm kịch bản ngôn ngữ tiếng Việt sẽ có lợi cho các dịch vụ rộng mở trong tương lai, không bị hạn chế chức năng như Unicode dựng sẵn. Nếu chúng ta cùng nhất trí với thế giới về lựa chọn Unicode tiếng Việt, thì các phần mềm soạn thảo trên thế giới sẽ sớm đưa vào kịch bản hỗ trợ ngôn ngữ tiếng Việt. Hiện nay, các môi trường soạn thảo Microsoft đều hỗ trợ kịch bản ngôn ngữ tiếng Việt, nhưng một số môi trường soạn thảo khác vẫn chưa hỗ trợ đầy đủ. Một phương án kĩ thuật tương thích có thể là khi hiển thị văn bản vẫn đưa ra unicode dựng sẵn, nhưng trong định dạng văn bản sẽ lưu giữ mã kí tự Unicode kịch bản ngôn ngữ tiếng Việt. Việc lựa chọn này có liên quan đến chuẩn quốc tế của quốc gia Việt nam về sử dụng kí tự Unicode. Với vấn đề này, chỉ có người Việt chúng ta mới làm thế giới thay đổi theo, và nếu việc sử dụng Unicode kịch bản ngôn ngữ tiếng Việt được thống nhất, các dịch vụ như sửa lỗi chính tả, sắp xếp văn bản tiếng Việt… mới có cơ sở hình thành.


Phản hồi gần đây